07:15 | 06/12/2018

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 5/12

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.384 tỷ đồng ra thị trường. VN-Index giảm 1,7 điểm (-0,18%) xuống 957,14 điểm; HNX-Index tăng 0,35 điểm (+0,33%) lên 107,74 điểm. Khối ngoại bán ròng trở lại gần 55 tỷ đồng…

TIN LIÊN QUAN
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 4/12
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/12
Điểm lại thông tin kinh tế tuần 26-30/11

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 5/12, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 22.757 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.390 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.305 VND/USD, tăng 15 đồng so với phiên 4/12. Tỷ giá tự do tăng 5 đồng ở chiều mua vào trong khi giảm 5 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.375 - 23.385 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 5/12, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng 0,02 - 0,05 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn so với phiên trước đó; cụ thể: qua đêm 4,86%; 1 tuần 4,88%; 2 tuần 4,91% và 1 tháng 4,96%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở tất cả các kỳ hạn; giao dịch ở mức: qua đêm 2,31%; 1 tuần 2,43%; 2 tuần 2,53%, 1 tháng 2,68%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn trong khi tăng nhẹ ở các kỳ hạn 7 năm và 15 năm, cụ thể: 3 năm 4,31%; 5 năm 4,51%; 7 năm 4,71%; 15 năm 5,32%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 15.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75% và được các tổ chức tín dụng hấp thụ hết. Trong ngày có 8.616 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.384 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố tăng lên mức 62.970 tỷ đồng.

Thị trường trái phiếu, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 5.200/5.700 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ gọi thầu (trong đó gồm 1.200 tỷ đồng trái phiếu phát hành thêm). Toàn bộ trái phiếu huy động được ở kỳ hạn 10 năm và 15 năm, lãi suất trúng thầu lần lượt là 5,1% và 5,3% - không biến động so phiên trước.

Thị trường chứng khoán mặc dù rung lắc mạnh trong phiên hôm qua do tâm lý lo ngại tình hình xấu của chứng khoán thế giới, các chỉ số vẫn kết thúc phiên giao dịch với trạng thái không quá tiêu cực. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 1,7 điểm (-0,18%) xuống 957,14 điểm; HNX-Index tăng 0,35 điểm (+0,33%) lên 107,74 điểm.

Thanh khoản thị trường duy trì ở mức tương tự phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch trên 5.400 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng trở lại gần 55 tỷ đồng trên cả 2 sàn.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Kho bạc Nhà nước, thanh toán vốn đầu tư công 11 tháng 2018 ước đạt 239.57 nghìn tỷ đồng, đạt 59,94% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 61,62% so kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn so cùng kỳ năm 2017 (tỷ lệ tương ứng là 59,21% và 65,12%).

Đối với nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn này mới chỉ đạt khoảng 35,23% kế hoạch. Đối với nguồn vốn nước ngoài, tỷ lệ giải ngân vốn nước ngoài thấp so với cùng kỳ năm 2017 (chỉ đạt 38,65% so với 57,11%).

Tin quốc tế

Chỉ số PMI lĩnh vực dịch vụ khu vực Eurozone tháng 11 đạt 53,4 điểm, giảm nhẹ so với mức 53,5 điểm của tháng trước đó, nhưng cao hơn mức dự báo 53,1 điểm. Đây là mức thấp nhất được ghi nhận trong vòng hơn hai năm trở lại đây.

Doanh số bán lẻ khu vực Eurozone trong tháng 10 tăng 0,3% so với tháng trước sau khi giảm 0,5% ở tháng trước đó, đồng thời cao hơn mức tăng 0,2% theo dự báo của các chuyên gia.

Tốc độ mở rộng ngành dịch vụ của Anh trong tháng 11 đạt 50,4 điểm, thấp hơn mức điểm 52,2 tháng trước đó, đồng thời thấp hơn mức dự báo 52,5 điểm của các chuyên gia. PMI ngành dịch vụ đã chạm mức thấp nhất trong 28 tháng trở lại đây.

GDP quý III của Úc chỉ tăng 0,3%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 0,9% của quý trước đó, và mức tăng 0,6% theo dự báo của các chuyên gia. Đây là tăng trưởng GDP thấp nhất mà Úc ghi nhận trong vòng hai năm trở lại đây. So với cùng kỳ năm ngoái, GDP Úc chỉ tăng 2,8%, thấp hơn mức kỳ vọng 3,3%.

GDP quý III giảm tốc mạnh có thể ảnh hưởng mạnh đến nhận định về triển vọng kinh tế từ Ngân hàng Trung ương Úc RBA và niềm tin của thị trường.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.450
Vàng SJC 5c
36.280
36.470
Vàng nhẫn 9999
36.360
36.760
Vàng nữ trang 9999
35.850
36.400