07:36 | 08/11/2018

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 7/11

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.000 tỷ đồng ra thị trường. VN-Index tăng 0,11 điểm (+0,01%) lên 922,16 điểm. HNX-Index giảm 0,36 điểm (-0,33%) xuống 104,2 điểm. Thanh khoản thị trường duy trì mức thấp. Khối ngoại mua ròng 85 tỷ đồng…

TIN LIÊN QUAN
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 6/11
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 5/11
Điểm lại thông tin kinh tế tuần 29/10-2/11

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 7/11, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 22.727 VND/USD, tiếp tục tăng nhẹ 2 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.359 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.333 VND/USD, tăng 6 đồng so với phiên 6/11. Tỷ giá tự do giảm mạnh 39 đồng ở chiều mua vào và 30 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.400 - 23.420 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 7/11, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng 0,05 - 0,08 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn so với phiên trước đó; cụ thể: qua đêm 4,89%; 1 tuần 4,90%; 2 tuần 4,90% và 1 tháng 4,93%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD biến động nhẹ; giao dịch ở mức: qua đêm 2,30%; 1 tuần 2,39%; 2 tuần 2,48%, 1 tháng 2,65%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp cũng tăng nhẹ ở tất cả các kỳ hạn; cụ thể: 3 năm 4,47%; 5 năm 4,65%; 7 năm 4,81%; 15 năm 5,42%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 10.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày lãi suất 4,75%, các tổ chức tín dụng hấp thu được toàn bộ số này. Trong phiên có 5.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.000 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố tăng lên mức 50.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu, phiên hôm qua cũng không có tín phiếu đáo hạn, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giữ ở mức 28.960 tỷ đồng.

Thị trường trái phiếu ngày 7/11, Kho bạc Nhà nước gọi thầu 3.600 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ ở 3 loại kỳ hạn 5, 10 và 15 năm. Tuy nhiên, Cơ quan này chỉ huy động được 829 tỷ đồng kỳ hạn 10 năm và 800 tỷ đồng kỳ hạn 15 năm. Lãi suất trúng thầu tăng nhẹ, cụ thể kỳ hạn 10 năm 5% (+0,10 điểm phần trăm) và kỳ hạn 15 năm 5,25% (+0,05 điểm phần trăm).

Thị trường chứng khoán giao dịch vẫn ảm đạm với sự phân hóa mạnh của nhóm vốn hóa lớn. Kết thúc phiên giao dịch ngày 7/11, VN-Index tăng 0,11 điểm (+0,01%) lên 922,16 điểm. HNX-Index giảm 0,36 điểm (-0,33%) xuống 104,2 điểm.

Thanh khoản thị trường duy trì mức thấp với tổng giá trị giao dịch trên 3.570 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng 85 tỷ đồng trên cả 2 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính), từ năm 2016 đến hết tháng 10/2018, cả nước đã phê duyệt phương án cổ phần hóa 136 doanh nghiệp Nhà nước.

Tin quốc tế

Không nằm ngoài dự báo, đảng Cộng hòa, Dân chủ chia nhau kiểm soát hai viện sau cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ ngày 6/11. Cụ thể, đảng Dân chủ đã giành được 223 ghế Hạ viện, đáp ứng được tổng số ghế cần thiết để chiếm thế đa số, qua đó chính thức giành quyền kiểm soát Hạ viện 435 ghế.

Tại Thượng viện, đảng Cộng hòa giành được 52 ghế, bảo toàn được quyền kiểm soát cơ quan lập pháp này, trong khi đảng Dân chủ mới chỉ giành được 44 ghế.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc mất Hạ viện lần đầu tiên trong 8 năm là thất bại của đảng Cộng hòa nhưng việc giữ lại và giành thêm ghế tại Thượng viện là chiến thắng của Tổng thống Donald Trump.

Mặc dù vậy, chặng đường hai năm cuối nhiệm kỳ của ông được dự báo sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với nửa đầu nhiệm kỳ, khi đảng Cộng hòa kiểm soát cả lưỡng viện Quốc hội. Điều này báo hiệu sự giằng co trong tiến trình thông qua các chính sách quan trọng khi những quan điểm và ưu tiên của hai đảng luôn trong tình trạng đối đầu.

Sản lượng công nghiệp của Đức tháng 10/2018 tăng trưởng 0,2% so với tháng trước, cao hơn mức điều chỉnh tăng 0,1% của tháng trước đó, đồng thời trái mức dự đoán chững lại hoàn toàn theo mức 0% của các chuyên gia.

Chỉ số giá nhà HPI của Anh tăng 0,7% so với tháng trước trong tháng 10, sau khi giảm 1,3% tháng trước đó, đồng thời cao hơn mức tăng 0,5% dự đoán. Tuy nhiên trong dài hạn, giá nhà ở đã tăng chậm lại với 1,5% so với cùng kỳ trong tháng 10, từ mức 2,5% của tháng 9.

Mức thu nhập bình quân của người dân Nhật Bản tăng 1,1% so với cùng kỳ trong tháng 9, tuy cao hơn mức tăng điều chỉnh xuống của tháng 8 là 0,8% nhưng không đạt kỳ vọng tăng 1,2% của các chuyên gia.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.340 25.954 26.814 27.989 28.437 212,68 221,06
BIDV 23.220 23.340 25.920 26.666 27.952 28.431 216,57 222,10
VietinBank 23.203 23.333 25.895 26.690 27.890 28.530 216,31 223,31
Agribank 23.215 23.320 25.926 26.322 27.971 28.438 216,98 220,95
Eximbank 23.210 23.320 25.936 26.295 28.055 28.443 217,30 222,30
ACB 23.190 23.310 25.901 26.258 28.136 28.452 217,28 220,27
Sacombank 23.183 23.343 25.947 26.406 28.089 28.498 216,47 221,03
Techcombank 23.195 23.335 25.700 26.561 27.733 28.593 216,30 223,68
LienVietPostBank 23.205 23.325 25.886 26.368 28.087 28.521 217,36 221,90
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.250
42.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.250
41.600
Vàng SJC 5c
41.250
41.620
Vàng nhẫn 9999
41.250
41.750
Vàng nữ trang 9999
40.800
41.600