07:30 | 13/05/2019

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 6-10/5

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 23.597 tỷ đồng. VN-Index đứng ở mức 952,55 điểm, giảm mạnh 21,59 điểm (-2,22%) so với cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm 1,01 điểm (-0,95%), xuống mức 105,86 điểm; UPCOM-Index giảm 0,62 điểm (-1,11%) xuống 55,15 điểm. Thanh khoản thị trường khá tốt. Khối ngoại bán ròng 551 tỷ đồng.

Tổng quan

Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) vẫn tăng trưởng đều đặn trong năm 2018 và 4 tháng đầu năm 2019, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) mặc dù tăng vượt trội trong năm 2018 nhưng vẫn ở quy mô nhỏ bé so với tiềm năng.

Năm 2018, tổng khối lượng phát hành TPCP là 196.797 tỷ đồng. Trong số đó có 171.797 tỷ đồng được phát hành thông qua đấu thầu, đạt gần 86% so với kế hoạch huy động chưa điều chỉnh công bố đầu năm 2018 (200.000 tỷ đồng) và đạt 98% so với kế hoạch huy động đã điều chỉnh vào đầu tháng 10/2018 (175.000 tỷ đồng).

Tính đến cuối tháng 12/2018, tổng giá trị lưu hành của TPCP là 1.082.194 tỷ đồng, trong đó giá trị lưu hành của TPCP đạt 919.706 tỷ đồng, chiếm 84,99%, của TPCP bảo lãnh 141,265 tỷ đồng, chiếm 13,05%, và của trái phiếu chính quyền địa phương 21.224 tỷ đồng, chiếm 1,96%.

Theo Bộ Tài chính, đến hết năm 2018, quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam đạt khoảng 39,12% GDP, thị trường TPCP 27,25% GDP. Đây là một bước tiến vượt bậc của thị trường nếu so với quy mô chỉ khoảng 4,5% GDP năm 2003. Tuy nhiên, so với các nước khác trong khu vực, quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn còn nhỏ.

Theo số liệu thống kê, quy mô thị trường trái phiếu của Malaysia đạt 95% GDP (thị trường TPCP chiếm 49,7% GDP); Singapore là 81,1% GDP (thị trường TPCP chiếm 49,6% GDP), Thái Lan là 73% GDP (thị trường TPCP chiếm 53% GDP), Hàn Quốc là 124,6% GDP (thị trường TPCP chiếm 73,6% GDP), Trung Quốc là 68,8% GDP (thị trường TPCP chiếm 49,8% GDP).

Năm 2019, Kho bạc Nhà nước (KBNN) dự kiến tiếp tục phát hành 260.000 tỷ đồng TPCP. Trong quý I, KBNN gọi thầu 91.000 tỷ đồng TPCP ở các kỳ hạn từ 5-30 năm, đấu thầu thành công gần 69.469 tỷ đồng so với kế hoạch ban đầu 73.500 tỷ đồng, hoàn thành 94,5% kế hoạch quý và gần 27% kế hoạch năm.

Trong tháng 4, khối lượng trúng thầu đứng ở mức 11.576 tỷ đồng, giảm 2.699 tỷ đồng (-19%) so tháng trước đó, hoàn thành 16% kế hoạch kế hoạch quý II/2019. Khối lượng gọi thầu trong tháng 4 ở mức 17.500 tỷ đồng, giảm so mức 27.500 tỷ đồng của tháng 3.

Trong khi đó, thị trường TPDN phát triển tương đối chậm chạp. Giai đoạn năm 2010-2014, khối lượng phát hành TPDN hàng năm dao động trong khoảng 25.000-30.000 tỷ đồng, đến năm 2016 quy mô TPDN mới đạt khoảng 2,5% GDP.

Đến năm 2018, thị trường TPDN tăng mạnh khi có đến 107 thương vụ phát hành TPDN của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán với khối lượng phát hành thành công là 224.000 tỷ đồng, tăng 94,5% so với năm 2017.

Theo đó, dư nợ thị trường TPDN đã đạt mức 474.500 tỷ đồng, bằng 8,6% GDP năm 2018 và tăng 53% so với cuối năm 2017. Dù vậy, so với TPCP, quy mô TPDN vẫn còn khá nhỏ và số lượng doanh nghiệp phát hành chiếm tỷ lệ không đáng kể nếu so với 700.647 doanh nghiệp đang hoạt động (tại thời điểm cuối năm 2018) và khoảng 1.600 doanh nghiệp niêm yết trên HNX, HOSE và UPCoM.

Các cơ quan chức năng cùng các chuyên gia kinh tế cũng đưa ra nhiều giải pháp để thúc đẩy sự phát triển thị trường TPDN. Khung khổ pháp lý về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp đã được ban hành và đang triển khai.

Hiện tại, Bộ Tài chính đang xem xét hồ sơ đăng ký để các tổ chức có nhu cầu cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm có thể triển khai dịch vụ trên TTTP. Bộ Tài chính cũng dự kiến sẽ xây dựng trung tâm thông tin TPDN đặt tại Hà Nội.

Ngoài ra, cần xây dựng lại hệ thống chuẩn mực tài chính - kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế (chuẩn báo cáo Tài chính quốc tế IFRS), các đơn vị phải chuẩn bị về con người (đào tạo lại hệ thống nhân sự kế toán, kiểm toán, nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước, năng lực các doanh nghiệp, các hội chuyên môn…) lẫn hạ tầng (hệ thống các công ty định giá doanh nghiệp, đánh giá tín nhiệm, công ty tư vấn…).

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ trong tuần từ 6-10/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng dần qua các phiên. Chốt tuần 10/5, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.057 VND/USD, tăng mạnh 27 đồng so với cuối tuần trước đó.

Tỷ giá mua giao ngay vẫn được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 23.200 VND/USD. Tỷ giá bán ra được niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, phiên cuối tuần ở mức 23.699 VND/USD.

Tỷ giá USD/VND liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm tăng mạnh 200 đồng trong hai phiên thứ Tư và thứ Năm, quay đầu giảm 100 đồng trong phiên thứ Sáu. Chốt tuần 10/5, tỷ giá giao dịch ở mức 23.285 VND/USD, tăng 35 đồng so với cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do cũng tăng mạnh trong tuần qua. Kết thúc ngày 10/5, tỷ giá tăng 70 đồng so với phiên cuối tuần trước đó ở cả hai chiều mua và và bán ra, giao dịch ở mức 23.340-23.360 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng VND có xu hướng giảm nhẹ trong tuần qua. Chốt tuần 10/5, lãi suất giao dịch quanh mức: qua đêm 3,54% (-0,24 điểm phần trăm); 1 tuần 3,66% (-0,2 điểm phần trăm); 2 tuần 3,8% (-0,14 điểm phần trăm); 1 tháng 4,06% (không thay đổi).

Lãi suất liên ngân hàng đối với USD trong tuần qua tăng nhẹ. Cuối tuần 10/05, lãi suất đứng ở mức qua đêm 2,53% (+0,03 điểm phần trăm); 1 tuần 2,63% (+0,05 điểm phần trăm), 2 tuần 2,69% (+0,01 điểm phần trăm) và 1 tháng 2,83% (+0,03 điểm phần trăm).

Thị trường mở trong tuần từ 6-10/5, Ngân hàng Nhà nước đều đặn chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố vẫn với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%/năm, tuy nhiên không có thành viên nào có nhu cầu vay cầm cố. Trong tuần có 515 tỷ đồng đáo hạn. Như vậy, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố ở mức 0 đồng.

Ngân hàng Nhà nước chào thầu 34.000 tỷ đồng tín phiếu, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3%. Kết quả, khối lượng trúng thầu ở mức 25.887 tỷ đồng (tỷ lệ trúng thầu 76%). Với khối lượng đáo hạn 49.998 tỷ đồng. Khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giảm xuống mức 25.887 tỷ đồng.

Như vậy, tổng cộng Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 23.597 tỷ đồng ra thị trường trong tuần vừa qua thông qua kênh nghiệp vụ thị trường mở.

Thị trường trái phiếu trong tuần, KBNN huy động thành công 786/7.123 tỷ đồng TPCP (tỷ lệ trúng thầu 11%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm chỉ huy động được 6/500 tỷ đồng chào thầu, kỳ hạn 10 năm cũng chỉ huy động được 30/1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 20 năm huy động được toàn bộ 750 tỷ đồng, kỳ hạn 7 năm đấu thầu thất bại.

Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn 5 năm, 10 năm và 20 năm lần lượt tại 3,7%; 4,72% và 5,69% - không thay đổi so với phiên trước.

Trên thị trường thứ cấp, giá trị giao dịch Outright và Repos trung bình trên thị trường tuần qua đạt khoảng 9.438 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 8.900 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Chốt phiên 10/5, lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp ít biến động so với tuần trước đó. Cụ thể, các mức lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 3,25%; 2 năm 3,5%; 3 năm 3,6%; 5 năm 3,93%; 7 năm 4,21%; 10 năm 4,75%.

Thị trường chứng khoán có một tuần giao dịch tiêu cực khi cả 3 sàn đều đỏ lửa. Phiên cuối tuần 10/5, VN-Index đứng ở mức 952,55 điểm, giảm mạnh 21,59 điểm (-2,22%) so với cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm 1,01 điểm (-0,95%), xuống mức 105,86 điểm; UPCOM-Index giảm 0,62 điểm (-1,11%) xuống 55,15 điểm. 

Thanh khoản thị trường khá tốt, đứng ở mức 4.121 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 3.800 tỷ đồng/phiên trong tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng 551 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Tin quốc tế

Thế giới chứng kiến một tuần ảm đạm khi Mỹ bất ngờ tuyên bố và chính thức áp thuế tăng cường lên 200 tỷ USD hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, cuộc họp giữa Mỹ và Trung tại Washington không cho thấy có triển vọng nào về một bản thỏa thuận giữa hai nước.

Tổng thống Donald Trump ngày càng gay gắt hơn trước thái độ trì hoãn từ phía Bắc Kinh, trong khi Chính phủ Trung Quốc cũng sẵn sàng trả đũa khi bị công kích. Hiện tại vẫn chưa có kế hoạch cụ thế nào cho lần gặp mặt tiếp theo giữa hai quốc gia này.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng Trung Quốc nên tích cực hơn để có những thỏa thuận, trước khi Mỹ có thể đẩy căng thẳng đi xa hơn, đặc biệt nếu ông Trump chiến thắng trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ tới.

Điểm sáng trong tuần đến từ việc Đức và Anh ghi nhận các chỉ báo tích cực, đặc biệt, GDP của Anh tăng trưởng tốt trong quý I/2018, đúng với kỳ vọng.

TIN LIÊN QUAN
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 9/5
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 8/5
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 7/5
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 6/5

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.000
39.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.000
39.200
Vàng SJC 5c
39.000
39.220
Vàng nhẫn 9999
38.850
39.300
Vàng nữ trang 9999
38.500
39.300