07:30 | 09/10/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 8/10

Thị trường mở phiên hôm qua cân bằng ở hai chiều bơm - hút. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 5,13 điểm (+0,52%) lên 988,22 điểm; HNX-Index tăng 0,19 điểm (+0,18%) lên 103,92 điểm; UPCoM-Index giảm 0,03 điểm (-0,05%) xuống 56,82 điểm. Thanh khoản thị trường chưa cải thiện. Khối ngoại tiếp tục bán ròng gần 25 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 7/10
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 30/9-4/10

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 8/10, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.157 VND/USD, tăng trở lại 2 đồng so với phiên đầu tuần. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.802 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.201 VND/USD, không thay đổi so với phiên 7/10. Tỷ giá trên thị trường tự do tiếp tục giao dịch mua vào tại 23.180 VND/USD và bán ra tại 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,01 điểm phần trăm ở kỳ hạn qua đêm và 1 tuần trong khi tăng 0,02 -– 0,06 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng so với phiên đầu tuần; giao dịch tại: qua đêm 2,25%; 1 tuần 2,45%; 2 tuần 2,65% và 1 tháng 3,10%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD tiếp tục tăng 0,02 - 0,03 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống; giao dịch tại: qua đêm 2,11%; 1 tuần 2,23%; 2 tuần 2,36%, 1 tháng 2,49%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm ở tất cả các kỳ hạn so với phiên 7/10, giao dịch tại: 3 năm 2,84%; 5 năm 2,99%; 7 năm 3,62%; 10 năm 3,99%; 15 năm 4,25%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 8/10, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 18.000 tỷ đồng tín phiếu, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 2,50%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được gần như toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có gần 18.000 tỷ đồng đáo hạn.

Như vậy, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường duy trì ở mức gần 90.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,50%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán sau khi giao dịch dưới ngưỡng tham chiếu vào phiên sáng, đến cuối buổi chiều, nhiều cổ phiếu trụ cột bật tăng trở lại, giúp các chỉ số thị trường đi lên.

Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 5,13 điểm (+0,52%) lên 988,22 điểm; HNX-Index tăng 0,19 điểm (+0,18%) lên 103,92 điểm; UPCoM-Index giảm 0,03 điểm (-0,05%) xuống 56,82 điểm.

Thanh khoản thị trường chưa được cải thiện với tổng giá trị giao dịch đạt trên 4.000 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục bán ròng gần 25 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Tổng cục Hải quan, lũy kế đến hết 30/9, ngành Hải quan thu ngân sách đạt 261.599 tỷ đồng, bằng 87,1% dự toán, 82,9% chỉ tiêu phấn đấu, tăng 15,6 % so với cùng kỳ 2018.

Tin quốc tế

Chỉ số giá sản xuất của Mỹ giảm trong tháng 9. Cụ thể, chỉ số PPI và PPI lõi của Mỹ cùng giảm 0,3% so với tháng trước trong tháng 9 sau khi lần lượt tăng 0,1% và 0,3% trong tháng 8, cùng trái với dự báo tăng lần lượt 0,1% và 0,2% của các chuyên gia.

Người phát ngôn của Liên minh Châu Âu EU cho biết khối này cần một giải pháp khả thi có thể thay thế hoàn toàn cho điều khoản rào chắn Bắc Ireland chứ không phải những dàn xếp tạm thời và phải tiếp tục đàm phán trong tương lai.

Liên quan đến kinh tế Eurozone, sản lượng công nghiệp của Đức tăng 0,3% so với tháng trước trong tháng 8 sau khi giảm 0,6% trong tháng 7, trái với dự báo tiếp tục giảm 0,2%.

Trong ngày 7/10, Nhật Bản và Mỹ chính thức ký hết hiệp định thương mại song phương. Liên quan đến các chỉ báo kinh tế Nhật, thu nhập bình quân tại nước này trong tháng 8 giảm 0,2% so với cùng kỳ, thấp hơn mức giảm 1,0% của tháng 7 và khớp với dự báo. Bên cạnh đó, mức chi tiêu hộ gia đình tại nước này tăng 1,0% so với cùng kỳ trong tháng 8, lớn hơn mức tăng 0,8% của tháng 7 và mức 0,8% theo kỳ vọng. Cán cân vãng lai Nhật Bản trong tháng 7 thặng dư 1,72 nghìn tỷ JPY, lớn hơn mức thặng dư 1,65 nghìn tỷ của tháng 7 và dự báo thặng dư 1,68 nghìn tỷ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.160
41.580
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420